Giỏ hàng

Ké đầu ngựa cây thuốc được chữa viêm xoang phổ biến hiện nay

Ké đầu ngựa còn có tên thường gọi là thương nhĩ tử. Trong Đông Y, Ké đầu ngựa được dùng với tác dụng điều trị các bệnh đau đầu, chảy nước mũi, viêm mũi, đau nhức xương khớp. Đặc biệt, cây thuốc này được dùng phổ biến để điều trị viêm xoang. Để hiểu hơn về công dụng của nó hãy cùng tìm hiểu dưới bài viết sau đây.

KÉ ĐẦU NGỰA LÀ GÌ?

Ké đầu ngựa hay còn có tên gọi là thương nhĩ tử, Phắt ma, Thương nhĩ, Mác nháng (Tày).

Tên khoa học là Xanthium strumarium L.

Thuộc họ Cúc (Asteraceae).

PHÂN BỐ

Cây Ké đầu ngựa là một cây nhỏ, cao độ 2m, thân có khía răng. Lá cây mọc so le. Phiến lá hình 3 cạnh, mép có răng cưa có chỗ khía hơi sâu thành 3-5 thùy, có lông ngắn cứng. Cụm hoa hình đầu có loại lưỡng tính ở phía trên, có loại chỉ gồm có hai hoa cái nằm trong hai lá bắc dày và có gai. Quả là quả giả hình thoi, có móc, có thể móc vào lông động vật.

Loại cây này được phân bố rộng rãi trên khắp thế giới, bao gồm Nga, Iran, Ấn Độ, Triều Tiên và Nhật Bản. Nó thường mọc ở đồng bằng, đồi, núi và các bãi hoang ven đường. Cây ké này mọc hoang ở khắp nơi trong nước ta.

Thu hoach vào mùa thu, khi quả già chín, lúc trời khô ráo, hái lấy quả, loại bỏ tạp chất và cuống lá, phơi hoặc sấy nhẹ ở 40 °C đến 45 °C cho đến khô.

THÀNH PHẦN HÓA HỌC

Cho đến nay, Ké đầu ngựa được nghiên cứu với hơn 170 hợp chất đã được phân lập và xác định từ loài cây này. Trong số đó, sesquiterpenes và phenylpropanoids là những thành phần có hoạt tính sinh học chính và phong phú nhất trong Ké đầu ngựa. Đây được coi là những thành phần đặc trưng của loài cây này.

Sesquiterpene lactones thể hiện các hoạt động mạnh mẽ với tác dụng chống vi khuẩn, kháng vi rút, chống khối u và chống viêm. Các axit phenolic, chủ yếu là axit chlorogenic, được coi là hoạt chất chống viêm, giảm đau chính.

CÔNG DỤNG

Ké đầu ngựa là một trong các loại cây có tác dụng:

Tác dụng chống khối u cũng được coi là đặc tính dược lý chính của chúng. Cây thuốc này đã được nghiên cứu rộng rãi trong ung thư phổi, ung thư vú, ung thư cổ tử cung, ung thư ruột kết, ung thư gan, u màng não và bệnh bạch cầu.

Chúng có tác dụng kháng viêm, hạ sốt và giảm đau đáng kể.

Tác dụng kháng khuẩn và kháng nấm cũng đã được chứng minh có mặt trên Ké đầu ngựa.

Uống dược liệu này có thể chống đái tháo đường thông qua việc làm hẹn chế tăng đường huyết và giảm các biến chứng của bệnh.

Ngoài ra, Ké đầu ngựa là một chất chống ô xy hoá mạnh.

MỘT SỐ BÀI THUỐC TỪ KÉ ĐẦU NGỰA

Trị viêm xoang mũi, chảy nước mũi, viêm mũi: ké đầu ngựa 8g, tân di 8g, bạch chỉ 12g, bạc hà 4g. Sắc uống.

Trị viêm xoang mũi, họng đau, nhức đầu, tắc mũi, ngạt mũi: ké đầu ngựa 20g, bạch chỉ 6g, hoàng kỳ 30g, kinh giới 10g, tế tân 4g, gạo tẻ 60g, đường trắng lượng thích hợp. Sắc thuốc lấy nước, cho vào nấu với gạo tẻ, khi cháo được cho thêm đường. Ngày ăn 1 lần, đợt 7 - 10 ngày.

Trị viêm mũi xuất tiết, đờm đặc vàng, niêm mạc mũi sưng phù nề, đau đầu, đau vùng cánh mũi: ké đầu ngựa 12g, chi tử 20g, bạc hà 6g, tân di 12g. Tán bột, mỗi lần dùng 2 thìa cà phê, hãm cùng với chè uống ngày 2 lần. Đợt dùng 7 - 20 ngày.

Trị viêm mũi dị ứng: 10 - 16g ké đầu ngựa, 30g kim ngân hoa, 15g cây cứt lợn. Mỗi lần nấu với 4 chén nước sắc còn 1 chén để uống, ngày nấu 2 lần để trị một số trường hợp viêm mũi dị ứng. Lưu ý đối với người bị lạnh bàn chân phải kèm thêm việc ngâm chân trong nước ấm 10 phút mỗi tối.

Trị mũi sưng trướng kèm đau, phù nề, chảy nước mũi nhiều: ké đầu ngựa 10g, kim ngân hoa 10g, hoàng cầm 12g, cát căn 15g, bồ công anh 20g, bạch chỉ 10g, ty qua đằng (dây mướp gần gốc). Sắc uống ngày 1 tháng.

Tóm lại, đây là cây thuốc có công dụng trị đau khớp, chân tay tê dại co rút, mụn nhọt, mẩn ngứa, đặc biệt là trị viêm mũi, viêm xoang. Những thông tin trong bài viết chỉ mang tính chất tham khảo. Nếu muốn sử dụng chúng để chữa bệnh, bạn cần tham khảo ý kiến bác sĩ chuyên khoa.